Văn hóa – Cổng làng truyền thống Hà Tây – TrầnThị Huệ

Cổng làng truyền thống Hà Tây

 

Cổng làng là một loại hình kiến trúc, văn hoá rất phổ biến ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Hà Tây xưa có rất nhiều cổng làng. Nhưng do chiến tranh và nhiều yếu tố khác, cổng làng đã không còn nhiều như trước.

 

Cổng làng xưa

Hiện nay, Hà Tây chỉ còn khoảng hơn 100 cổng làng. Hầu hết những cổng làng này được xây dựng trước 1945. Có thể gọi đó là những cổng làng truyền thống.

 

Cổng làng ra đời từ rất sớm, gắn liền với sự hình thành phát triển của làng. Có thể ban đầu chỉ là những cái cổng sơ khai bằng tre, can bằng dong có nhiều gai nhọn để cản thú dữ vào làng phá phách, bắt súc vật. Dần dần do sự phát triển, các loại đá, nhất là đá ong, cùng với gạch ngói, vôi vữa và các loại vật liệu khác được sử dụng trong xây dựng ở nông thôn, cổng làng cũng được xây dựng từ thời Lê thế kỷ thứ XVI, XVII như cổng làng Mông Phụ ở Đường Lâm, Sơn Tây, cổng làng Chi Quan ở Thạch Thất, cổng làng Ước Lễ ở Thanh Oai. Cổng làng truyền thống ở Hà Tây là những công trình kiến trúc cổ, có sự đan xen giữa kiến trúc đình, chùa làng với tính dân gian truyền thống. Thông thường, cổng làng có 4 mảng kiến trúc nhưng không rời rẽ mà cấu kết với nhau, tạo sự bền vững, hài hoà có giá trị thẩm mỹ.

 

Cổng làng được xây dựng ở đầu làng, mở lối đi lại trên con đường chính vào làng. Do  vậy phần rất quan trọng của cổng là vòm cổng, còn gọi là lối cổng. Vòm cổng xây cuốn hình vòm parabol. Tuỳ theo vị trí, địa thế, điều kiện của mỗi làng mà vòm cổng có quy mô bề thế khác nhau, nhưng đều phải hài hoà đảm bảo đi lại thuận tiện cho cả làng.

 

Liên kết với vòm cổng là hai trụ cổng, cũng gọi là cổng trụ, xây thẳng đứng, đắp vẽ rất công phu. Giáp với mặt đường là chân trụ. Phía trên là thân trụ. Lòng thân trụ thường đắp câu đối. Tiếp đến là cổ trụ. Trên cùng được xem là đầu trụ cũng được đắp trang trí rất công phu. Liền với cổ trụ là ô hình chữ nhật đứng gọi là lồng đèn. Trên lồng đèn có nơi đắp quả dành dành, có nơi đắp con nghê hoặc các con giống khác trông rất sinh động.

Liên kết với vòm cổng và trụ cổng là mặt cổng, trang trí đắp nổi với những gờ chỉ hình con tiện, hoa lá cách điệu làm nổi bật những chữ đại tự đắp tên của làng, hoặc các chữ hàm chứa ý nghĩa súc tích, thể hiện phương châm xử thế mang cốt cách của làng.

 

Phần trên cùng là mái lợp ngói che chắn cho cổng và che mưa cho người qua cổng. Nhiều nơi có cổng làng lớn như Uớc Lễ, Thanh Oai, Thượng Hội, Đan Phượng, Tảo Khê, Ứng Hoà… Trên cổng còn có Vọng Lâu có 2, 3 lớp mái, mỗi góc đều có đầu đao mang dáng dấp của những đầu đao ở những ngôi đình, ngôi chùa cổ.

 

Cổng làng xưa được xây bằng gạch, ngói, vôi trộn với mật, muối, cấu kết rất bền chắc. Nhiều làng ở trung du, cổng làng được xây bằng đá ong là những sản phẩm truyền thống của xứ Đoài, như cổng làng Chi Quan, Vân Lôi ở Thạch Thất, cổng làng Ngô Sài ở Quốc Oai…

Có thể nói cổng làng truyền thống ở Hà Tây rất phong phú, đa dạng về kiểu dáng và chất liệu, đã tồn tại hàng trăm năm, là những công trình kiến trúc, văn hoá có giá trị, cần được bảo tồn và lưu giữ.

Cổng làng – nơi gửi gắm những ước mong

Cổng làng Uớc Lễ được xây từ thời Mạc, là một trong những cổng làng vào loại sớm, đẹp nhất Hà Tây còn đến ngày nay. Trên cổng, đắp nổi ba chữ Uớc Lễ môn (cổng làng Uớc Lễ). Uớc Lễ không chỉ là tên làng mà còn là triết lý của Nho giáo được dân làng tiếp nhận. Uớc Lễ là chữ dùng của Khổng Tử thời Xuân Thu. Trong một lần giảng giải cho học trò ông nói… “Bác học dĩ văn, ước chi dĩ lễ”. Ý muốn nói học rộng thì phải dựa vào văn (tức văn hoá), học đã rộng rồi thì phải chế định (Uớc) bằng Lễ. Ấy là điều cần thiết của người học rộng. Lấy Uớc Lễ đặt tên cho làng là quan niệm trong cuộc sống phải luôn luôn giữ lễ. Ở mặt sau cổng làng Uớc Lễ và nhiều cổng làng khác có chữ Thiểu cao đại. Ba chữ này là một điển tích trong Hán thư, nói về ông quan đời Hán tên là Vu Định Quốc, làm quan trong triều. Khi về quê ông thấy con cháu đang làm nhà, bèn dặn con cháu, làm cửa cho cao rộng hơn, có ý mong cho sau này con cháu làm quan to, thì xe ngựa mới đi vừa. Dùng điển xưa đắp trên cổng, dân làng thường ngày qua lại, cũng là nhắc nhở mọi người phải có chí học hành, tiến thủ để được thành đạt trong cuộc sống.

 

Nhiều cổng làng lại đắp ba chữ Nhân vi mỹ, tức lấy nhân (nhân nghĩa, nhân đức, nhân ái…) làm đẹp cho đời. Ba chữ này cũng dẫn từ lời Khổng Tử: “Lý nhân vi mĩ, trạch bất sử nhân, yên đức trĩ”. Nghĩa là, làng có đức nhân, ấy là chỗ ở tốt đẹp, lựa chọn nơi để ở, mà không ở vào nơi tốt đẹp, có đức có nhân ấy, thì sao gọi là người có trí khôn được. Quan niệm cái đức, cái nhân thấm nhuần vao nơi đất ở, tạo nên vẻ đẹp của làng. Đủ biết người xưa trọng nhân đức biết bao.

 

Cổng làng ở Phùng Xá, Mỹ Đức thì lại đề cao lẽ sống trung thành, chính trực với hai chữ Trung Chính, hoặc có cổng đắp các chữ Trực đạo hành, khuyên mọi người sống chính trực, như người quân tử đàng hoàng đi trên con đường thẳng.

 

Cổng làng Mông Phụ lại nêu một triết lý trong cuộc sống với những chữ khắc trên thượng lương: Thế hữu hưng nghi đại nghĩa là cuộc đời muốn được hưng thịnh, cần phải thích nghi, ấy là việc lớn quan trọng.

 

Chữ khắc trên cổng làng còn thể hiện truyền thống, bản sắc, cốt cách của làng. Chữ ở cổng làng Hà Trì, Hà Đông lại đề cao mỹ tục và mong muốn những phong tục tốt đẹp của làng ngày càng phát triển, với bốn chữ Mỹ tục khả gia.

 

Có làng vì rất coi trọng việc thực hiện hương ước, khoán ước của làng, trên cổng làng đã đề hai chữ Thượng khoán (coi trọng và đặt khoán ước của làng lên trên), như ngày naỷơ nhiều nơi đang rất coi trọng việc thực hiện quy ước xây dựng làng văn hóa gắn với thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.

 

Có nơi lại gửi gắm những ước muốn giản dị của làng về sự được bảo hộ bởi mưa thuận gió hòa như bốn chữ Phong Vân bảo hộ trên cổng làng Tê Quả, Thanh Oai.

 

Cổng làng đối với người xưa, có sự gắn bó sâu sắc, thể hiện tình cảm thiêng liêng với quê hương xứ sở. Trải qua bao đời, những tình cảm ấy gắn với cây đa, giếng nước, ao làng, gắn với những ngôi đình chùa cổ, đã trở thành hồn quê, mang sức sống và bản lĩnh của làng, trở thành sức mạnh vật chất, chống lại kẻ thù, mỗi khi đất nước bị xâm lược. Lẽ sống của người làng được ghi tạc ở cổng làng, luôn sáng ngời những giá trị chân, thiện, mỹ. Đó chính là diện mạo mang bản sắc độc đáo của văn hóa làng. Những giá trị đó cần được bảo tồn và phát huy trong cuộc sống hôm nay.

 

 

Advertisements
Published in: on November 5, 2009 at 5:59 pm  Leave a Comment  

The URI to TrackBack this entry is: https://nhabaotre28b.wordpress.com/2009/11/05/van-hoa-c%e1%bb%95ng-lang-truy%e1%bb%81n-th%e1%bb%91ng-ha-tay-tr%e1%ba%a7nth%e1%bb%8b-hu%e1%bb%87/trackback/

RSS feed for comments on this post.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: